Ở Việt Nam xưa kia thờ tự khá rườm rà. Các chùa thường thờ Phật, thờ Tổ (Đạt Ma, Lâm Tế. . . hiện tiền Tổ Sư), thờ Thánh (Quan Vân Trường, Hưng Đạo Vương. . .). Cách bài trí các tượng chư Phật, chư Bồ Tát, có thứ lớp và ý nghĩa rõ ràng.
Dưới đây chỉ tŕnh bày cách thờ Phật, thờ Tổ, không giải thích về sự thờ Thánh của một số chùa. Phần nhiều các chùa bài trí theo nguyên tắc: Tiền Phật, hậu linh. Ở trước chánh điện thờ Phật, hậu liêu thờ linh: Án giữa thờ Tổ, án tả hữu dành cho những ân nhân nhà chùa và vong linh ký tự; có nơi v́ chật hẹp không có phía sau phải thờ hai bên căn trước.
Cách bài trí các tượng chư Phật, chư Bồ Tát, ở trong chùa tuy cũng có công thức và ý nghĩa rõ ràng, nhưng vì xưa nay không có sách vở nào ghi chép cho tinh tường. Do đó, dù người ta mỗi khi bước chân vào chùa không phân biệt được pho tượng nào thờ vị nào. Nay ta muốn biêt rõ, trước hết phải phân biệt tượng thờ chư Phật, tượng thờ chư Bồ Tát. Dưới đây giải thích về sự thờ của một số chùa ở VN.
Ở trong chánh điện thờ Phật, chỉ có cái ý thờ Phật mà thôi, nhưng Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa ấy cho nên ở lớp trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ; Ở lớp thứ hai thờ Bảo thân Phật, tức là thờ Thụ-dụng trí-tuệ Phật. ở cõi cực lạc; ở lớp thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra sác thân ở trần thế. Từ lớp thứ tư trở xuống bày tượng sơ sinh của đức Thích Ca Mâu Ni Phật và những tượng các vị thần khác.
Vậy cách bài trí các tượng ở chánh điện các Chùa miền Bắc và Chùa xưa từ trên xuống dưới theo thứ tự sau đây :
A)-Tượng Tam Thế Phật.- Lớp trên cùng tột ở chỗ giáp vách phía trong, có ba pho tượng để ngang một dẫy, hình dáng giống nhau, tức là tượng "Thường trụ tam thế diệu pháp thân", người ta thường gọi tắt là tượng Tam thế Phật, nghĩa là Phật thường trụ, trong thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai.
B)-Tượng Di-Đà tam tôn.- Lớp thứ hai có ba pho tượng lớn, pho tượng ngồi giữa là pho tượng đức A-Di-Đà Phật, tức là Thụ-dụng Trí-tuệ thân, Pho tượng đứng bên tả là tượng đức Quan-Thế-Âm Bồ Tát, pho tượng đứng bên hữu là tượng đức Đại Thế-Chí Bồ-Tát. Đức Phật và hai Bồ Tát ở Tây-phương Cực-lạc, chủ việc cứu độ chúng sinh ở cõi Sa-bà qua cõi Cực lac.
C)-Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. - Lớp thứ ba có ba pho tượng lớn, pho tượng lớn ngồi giữa là tượng Thích Ca Mâu Ni Phật, tức là Ứng- thân hay là biến hóa thân, giáng sinh xuống trần thế, tu thành chính quả và thuyết pháp độ chúng, pho tượng ở bên phải, hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con sư tử xanh là tượng Đức Văn-Thù Bồ-Tát; pho tượng ở bên hữu, hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con voi trắng là tượng Đức Phổ-Hiền Bồ-Tát, theo thuyết nói trong Hoa Nghiêm kinh.
Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thich Ca Mâu-Ni ngồi cầm hoa-sen, như khi ngài thuyết pháp ở Linh-Thứu-Sơn; bên tả là tượng Ca-Diếp Tôn-Giả, vẻ mặt già, bên hữu là tượng A-Nan-Đà tôn giả, vẻ măt trẻ, là hai đại đệ tử của Đức Thích-Ca khi ngài còn ở thế-gian. Tượng hai vị tôn giả ấy đều tạc đứng, hình dáng hai người tỳ kheo.
D)-Tượng Cửu Long.- Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long để giữa. Tượng này theo điển nói khi đức Thích Ca Mâu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm, đoạn ngài đi bảy bước tay tả chỉ lên trời, tay hữu chỉ xuống đất mà nói rằng : "Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Trên trời, dưới đất, chi có ta là quí hơn cả" Bởi vậy tượng Cửu-long làm chín con rồng vây bọc chung quanh và ở trên những đám mây có chư Phật chư thiên, nhã nhạc, cờ phướn và bát bộ Kim Cương, ở giữa có pho tượng nhỏ, đứng một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, đó là tượng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lúc sơ sanh. Bên tả tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngồi ngai, mặc áo đội mũ Hoàng Đế, bên hữu có tượng Đại Phạm Thiên cùng một kiểu như pho tượng Đế Thích, đó là theo điển nói hai vị Đại Thiên Vương này chủ-tế ở cõi sa-bà thế-giới và lúc nào cũng hộ trì Đức Thích – Ca khi ngài chưa thành Phật.
Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật, chỉ bày có thế mà thôi. còn những chùa rộng lớn thì bày thêm hai lớp tượng nữa là :
E)- Tượng Tứ Thiên – Vương.
- Ở ngoài tượng Cửu Long để bốn pho tượng Tứ-Thiên-Vương mạc áo Vương-phục, bày làm hai dẫy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.
F)-Tượng tứ Bồ Tát.
- Có chùa không thờ tượng Tứ - Thiên-Vương mà bày tượng bốn vị Bồ-Tát, tạc hình Thiên-thần gọi là Ái-Bồ-Tát, tay cầm cái tên; Sách Bồ-Tát, tay cầm cái cây; Ngũ Bồ-Tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền Bồ-Tát tay nắm lại và để vào ngực.
G)- Tượng Bát-Bộ Kim-Cương.
- Có nhiều chùa tạc 8 vị Kim-Cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là Bát-bộ Kim-Cương gồm có :
1)-Thanh Trừ Tài Kim-Cương.
2)-Tích-Độc-Thần Kim-Cương.
3)-Hoàng-Tuỳ-Cầu Kim-Cương.
4)-Bạch-Tĩnh-Thủy Kim-Cương.
5)-Xích-Thanh-Hoả Kim-Cương.
6)-Định-Trừ-Tai Kim-Cương.
7)-Tử-Hiền Kim-Cương.
8)-Đại-Thần-Lực Kim-Cương./.
Bốn vị Bồ-Tát và Tám vị Kim-Cương này, theo điển tích ở trong các kinh thi có nhiều thuyết khác nhau, xong đại ý là nói những bậc thần đã phát Bồ-Đề Tâm, đem thần lực mà hộ-trì Phật Pháp.
SƠ QUA VỀ CÁC VỊ BỒ TÁT
Định nghĩa Bồ Tát : BỒ TÁT (Bodhisattva), Tên đầy đủ là Bồ-đề-tát-đoá, còn gọi là Bồ-đề - tác-đóa, Ma- ha- đế - tác- đóa. Cũ dịch là Đại đạo tâm chúng sinh, Đạo chúng sinh.v..v. mới dịch là đại Giác hữu tình, Giác hữu tình....nghĩa là người có đại tâm cầu đạo. Các vị đại Bồ Tát đối với trên thì cầu được đạo Phật, đối với dưới thì cầu giáo hoá chúng sinh. Chư Bồ Tát khi mới phát tâm, ai nấy đều phát nguyện bốn đều thề lớn său đây, sau này gọi là tứ hoằng- thệ :
1)- Chúng sanh vô biên, thề nguyện độ. Thề xin độ hết thẩy chúng sanh vô biên. Ấy là lấy Khổ- đế làm duyên mà phát thệ.
2)- Phiền não vô số thề nguyện đoạn. Thề xin dứt hết phiền não vô số. Ấy là lấy Tập- đế làm duyên mà phát thệ.
3)- Pháp môn vô tận, thề nguyện học. Thề xin học hết pháp môn vô tận. Ấy là lấy Đạo- đế làm duyên mà phát thệ.
4)- Phật-đạo vô-thượng thề-nguyện thành. Thề xin thành đạo Phật vô thượng. Ấy là lấy Diệt-đế làm duyên mà phát thệ.
Đối với tâm thân mình, chư Bồ Tát phát bốn điều nguyện lớn său dây :
1)- Tâm như đại đại. Nguyện cái tâm mình như đất lớn, để nuôi lớn chúng sinh cho được thành chánh quả.
2)- Tâm như kiều thuyền : Nguyện cái tâm mình như cái cầu, cái thuyền để đưa chúng sinh sang bến bên kia.
3)- Tâm như đại hải :Nguyện cái tâm mình như bể lớn, để nuôi chứa chúng sinh trong chỗ chân nguyên (mối đầu chân thật phát sinh ra vạn vật).
4)- Thân như hư không : Nguyện cái thân mình như hư không bao hàm hết thẩy vạn vật, cùng với chúng sinh bình đẳng vô nhiễm.
Đối với chúng sinh, chư Bồ Tát phát bốn điều thệ nguyện lớn như său :
1)- Vị độ giả, linh độ : Ai chưa được độ, thì khiến được độ.
2)- Vị giải giã, linh giải : Ai chưa hiểu, thì khiến được hiểu.
3)- Vị an giả, linh an. : Ai chưa được an, thì khiến được an.
4)- Vị Niết-bàn giả, linh niết bàn :Ai chưa được niết-bàn thì khiến được niết bàn.
Trên đây chỉ dẫn giải một số hạnh nguyện chính của các vị Bồ-Tát, không đi sâu vào Hạnh nguyện của từng vị, mỗi vị có một hạnh nguyện khác nhau như :
- Di Lặc Bồ Tát : Di-Lạc Bồ Tát tiếng Phạn gọi là Maitreya Bodhisattva phiên dịch ra, theo nghĩa thì gọi là A-Dật-Da (Adjita), căn cứ theo lời Thích Ca Mâu Ni nói ra khi ngài thuyết pháp, thì hiện nay Đức Di-Lạc Bồ-Tát còn ở trên tầng trời Đầu-Suất, đợi đến ngày giáng sinh làm người ở trần gian để tu thành Phật, tức là một vị Phật tương lai nối sau đức Thích-Ca Mâu-Ni Vậy.
Đức Di-Lặc Bồ-Tát tuy lúc chưa thành Phật vẫn lấy lòng từ bi mà phổ độ chúng sinh cho nên người ta thờ Ngài cũng như thờ một vị dã thành Phật. Thường ở chùa người ta thờ Đức Di-Lạc ngồi giữa, bên tả có Đức Pháp-Hoa-Lâm Bồ Tát, bên hữu có đức Đại Diệu Tướng Bồ Tát, gọi chung là Di-Lạc tam tôn.
Có sách chép đức Di-Lạc Bồ-Tát ở trên tầng trời Đầu Suất xuống giảng thuyết : "Phi không phi hữu, trung đạo diệu lý" làm ra sách Du-già-sư-địa-luận, truyền cho Vô-Trước Bồ-Tát (Asangha) ở đất Ấn Độ. Sách ấy là sách cốt yếu của phái Du-Già, tức là một phái chuyên bàn về cái tông chỉ Duy-Thức. Những kinh nói về đức Di-Lạc Bồ-Tát, có bộ Di-Lạc bản kinh, Di-Lạc thượng-sinh kinh nói : Ngài sinh lên cõi trời; Di-Lạc hạ sinh kinh nói Ngài sẽ sinh xuống trần thế; Di-Lạc đại thành Phật kinh; nói lúc Ngài sẽ thành Phật.
Quán-Thế-Âm Bồ-Tát : Kinh Pháp Hoa nói : Khổ-não chúng sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thị quán kỳ âm thanh, giai đác giải thoát. Dĩ thị danh Quán-Thế –Âm, những chúng sinh bị khổ não mà nhất tâm đọc đến Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, tức thì ngài nghe âm thanh của chúng sinh mà độ cho được giải thoát. Bởi thế gọi tên ngài là Quán-Thế-Âm.
Đức Quán-Thế-Âm mà có cái danh hiệu ấy là do một đức Phật đã thụ-ký cho Ngài, cho nên chính Ngài đã nói trong Kinh-Lăng-Nghiêm :"Về vô số kiếp đời xưa có Đức Phật ra đời hiệu là Quán-Thế-Âm Như Lai. Ta đến trước Phật mà phát Bồ-Đề tâm. Phật dậy ta theo ba phép: Văn, Tư, Tu, nghĩa là nghe lời giảng dậy, suy nghĩ về đạo lý, và tu hành mà vào tam-ma-đề (Samadhi). Phật khen ta chóng được viên-thông pháp-môn và tức thì ở ngay chỗ đại hội thụ-ký cho ta cái hiệu là Quán-Thế-Âm". Như thế Ngài được lấy cái danh hiệu của Bản-Sư làm danh hiệu của Ngài.
Đại-Thế-Chí Bồ-Tát : Đại-Thế-Chí Bồ-Tát tiếng Phạn là (Mahasthanaprâta Bodhisattva), cùng với Quán-Thế-Âm cùng phụ giúp Đức Phật A-Di-Đà để tế độ chúng sinh. Trong kinh Lăng-Nghiêm có nói: "Về vô số kiếp đời xưa, có Đức Phật hiệu là Siêu-Nhật-Nguyệt Quang-Như-Lai ra đời, dạy ngài tu phép niệm Phật tam muôi, thu cả lục căn là: nhãn, nhỉ, tỵ, thiệt, thân, ý, định tâm chuyên nhất về việc niệm Phật, bởi thế tâm khai, ngộ đạo viên-thông được danh hiệu là Đại Thế Chí".
Trong Kinh Quán Vô-Lượng-Thọ, tán thán công đức của đức Đại-Thế-Chí Bồ-Tát rằng :"Ngài đem ánh sáng trí-tuệ soi khắp hết thẩy, khiến chúng sinh đều thoát khỏi ba nơi ác-đạo, mà cái sức mạnh vô thượng". Bởi cái công đức của Đại-Thế-Chí to lớn như thế, cho nên Vân-Thê thiền sư làm bài Tân - Định Tây - Phương Nguyện - Văn "Đức Phật A-Di-Đà với Đức Phật Quan-Thế-Âm và đức Đại-Thế-Chí cùng các đấng hiền thánh, phóng hào quang ra mà tiếp dẫn chúng sinh giắt tay đề huề, chỉ trong một khắc là người mệnh chung được về cõi cực lạc".Vì thế ở các chùa người ta trưng bày Tượng đức Đại-Thế-Chí và Đức Quan-Thế-Âm đứng hai bên tả hữu đức A-Di-Đà gọi là hai vị Nhiếp-Sĩ.
Cách chọn Tôn Tượng Phật để chiêm bái
“Làm thế nào để biết một Tôn tượng Phật, Bồ Tát được tạo, họa đúng pháp.”
Người Phật tử luôn luôn dựa vào kinh điển và lời hướng dẫn của chư Tăng, Ni và các vị Thiện tri thức để tu học. Vậy có kinh sách sau đây đề cập đến việc đúc, vẽ, điêu khắc tượng Phật, Bồ tát:
- Phật Thuyết Tạo Tượng Lượng Đạc Kinh Giải (Đại Tạng Tập 21)
- Phật Thuyết Tạo Tượng Lượng Đạc kinh (Đại Tạng, Vạn Tục Tạng 87)
- Phật Thuyết Tạo Lập hình Tượng Phước báo Kinh (Đại Tạng Tập 16) còn gọi là: Phật Thuyết Tác Phật Hình Tượng, Ưu Điền Vương Tác Phật Hình Tượng Kinh, Tạo Tượng Công đức Kinh nói đầy đủ là Đại Thừa Tạo Tượng Công đức Kinh.
- Tượng Pháp Quyết Nghi Kinh (Đại Tạng phần Nghi Ngụy), nhưng Tông Thiên Thai cho là kết tinh của Kinh Niết Bàn nên hay dẫn dụng.
Tôn tượng Phật có mặt đầu tiên và duyên do như sau:
Đức Thế Tôn khi tại thế đă lên cung trời Đao Lợi hai (2) lần: Lần đầu là Thuyết Kinh Địa Tạng và lần thứ nhì là để báo ân Thân Mẫu là Bà Ma Da thuyết kinh Ma Ha Ma Da trước khi ngài nhập Niết Bàn. Trong lần thứ hai nầy kéo dài suốt kỳ hạ 9 tuần lễ. Ngài đă dẫn theo chư vị Bồ Tát, A La Hán và Đại Đệ Tử đồng thời cũng đă dặn chư vị Đệ tử ở lại thế gian cần phải tu hành Phật Pháp tinh tấn, dũng mănh… Như thường lệ hằng ngày đúng 4 giờ sáng chư vị Đệ tử của đức Phật thức dậy và đến bái yết đức Thế Tôn, nhưng nay lại không thấy được hình bóng của Ngài, nên sự tưởng nhớ càng ngày càng gia tăng thắm thiết. Vì vậy, một số đệ tử của Ngài đă lấy đất sét nặn hình tượng Đức Bổn Sư để chiêm bái tạm thời. Lúc ấy có một vị đệ tử tại gia là vua Ưu Đà Diên (tức Ưu Điền) cũng cảm thấy rất nhớ Phật nên phát tâm nguyện sẽ tạo tượng đức Phật. Vì là Quốc Vương nên Vua có nhiều tiền của và phương tiện, lúc đó tại Thiên giới có vị Tỳ Thủ Yết Ma, vị nầy là bề tôi của Trời Đế thích, ngài có thần thông nên biến hóa vô cùng và là vị Thiên Thần trông coi về việc xây dựng, đă cảm ứng được tấm lòng ngưỡng mộ đức Phật của những người đệ tử của Phật ở dương thế, nên Ngài đă biến hóa thành một người thợ xây dựng xuống trần gian, và người thợ nầy là một cao thủ đắp tượng có tay nghề bậc nhất.
Khi đă đầy đủ thiện nhơn, đúng vào ngày Đức Phật Đản Sanh bắt đầu công tác tạo tượng, trong một thời gian ngắn đă hoàn tất. Sau khi hoàn thành, Tôn Tượng đă phóng ra ánh sáng. Vừa lúc ấy đức Bổn Sư cũng hoàn măn Pháp hội rất thù thắng tại cung trời Đao lợi. Ngài tán thán công đức vua Ưu Điền đă phát tâm tạo Tôn Tượng, trước đại chúng đông đủ chư vị Thiên Chủ, Long Thiên, Hộ Pháp… Đức Phật nói: “Nếu có người dùng đất, gỗ, nhựa, vàng, bạc, đồng, sắt, hội họa, điêu khắc, đúc, đắp, thêu hình tượng đức Phật dù nhỏ nhất cũng phải bằng đầu ngón tay út, cần nhất là phải làm đúng như pháp, thì công đức rất to lớn.
Khi đức Phật từ cung trời Đao Lợi trở về lại nhân gian, vua Ưu Điền đă đem Tôn Tượng đến dâng lên đức Phật. Lúc nầy tất cả mọi người có mặt đều kinh ngạc vì thấy Tôn Tượng cử động: chấp hai tay; đứng dậy với vẻ hết sức cung kính đức Phật và đảnh lễ đức Bổn Sư ba (3) lạy. Tất cả đệ tử của đức Phật gồm cả Tăng lẫn Tục đều kinh hăi và tán thán không ngớt. Khi đó đức Bổn Sư nói với Tôn Tượng: “Nhà ngươi trong đời vị lai, Phật sự phải đảm trách rất nặng nề và lớn lao. Sau khi ta diệt độ, tất cả đệ tử của Ta đều phó thác cho Ngươi.” Đức Phật lại nói với vua Ưu Điền: “Theo pháp của ta, Ông là người đầu tiên làm đúng quy tắc, chưa có một ai như Ông cả. Việc làm nầy khiến cho chúng sanh có niềm tin vững chắc, nhiều phước đức và thiện căn tăng trưởng.”
Trên đây là tóm tắt duyên khởi về sự có mặt của Tôn Tượng Phật đầu tiên trên thế gian nầy và lý do tại sao người Phật tử chúng ta thấy tượng Phật là như thấy Phật sau khi đức Phật nhập diệt.
Đại cương nội dung kinh tạo tượng, đức Phật đă dạy những gì là quan trọng nhất?
Thiết nghĩ, mỗi chữ trong kinh tạng Phật giáo đều quan trọng như nhau. Bởi vì nếu xa kinh một chữ là đồng với ma thuyết. Hơn nữa, Cổ nhân đă dạy rằng: Tùng lai tu Phật quả giả, lục độ vi tiên. Thành Phật nhân giả, tạo tượng đệ nhất. Nghĩa là: từ xưa tới nay, người tu muốn đắc quả Phật, lấy pháp lục độ làm đầu. Nhân để thành Phật, việc tạo tượng là trên hết. Nhưng trong Kinh Phật Thuyết Tạo Tượng Lượng Đạc, do Ngài xá Lợi Phất thỉnh vấn, đức Phật đă dạy những điểm chính như sau:
1) Kích thước: Từ đỉnh đầu xuống tận lòng bàn chân, phân; tấc kích thước đều có quy định. Chiều cao, bề ngang, lớn nhỏ một chút cũng không được làm sai, phải như kinh, như giáo, như pháp. Các nhà điêu khắc, đúc tạo, hội họa tượng Phật không thể tùy tiện được.
2) Một Tôn tượng mà kích tấc, tỷ lệ không chuẩn xác thì Chánh Thần không chịu ở để hộ trì. Ngược lại tà ma, quỷ mị ở, giảm thiểu những điều lành và tăng thêm những điều bất tường nên ma quỹ tự do hành động, muốn làm gì thì làm.
Sở dĩ bị như vậy là vì Pháp thân chư Phật rất là rộng lớn từ vô lượng kiếp đến nay, từ trên trời, nhân gian, hang rồng, động ma, bốn (4) loài thai, noãn, thấp, hóa sanh, các loài có vảy, có mai, có cánh, có lông… không có nơi nào mà Như Lai không đến. Nên đă hiển thị ra 32 tướng viên măn và 80 vẻ đẹp để chúng sanh trông thấy là phát tâm quay về với tự tánh, tu hành chứng đắc được Kim cang thân. Nếu tạo tượng không đúng phép, kích thước, tỷ lệ không chuẩn xác nên Long Thiên, Hộ Pháp không phát nguyện hộ trì, chư Thần, chư Thiên tướng cũng không thủ hộ, nên các loại tà ma, tà tinh, tà mị v.v…đă vào ở trong tượng để gây những sự bất tường. Đó cũng là lẽ tự nhiên.
Tượng Phật và Bồ Tát bán thân có thể thờ phụng và chiêm bái được không?
Theo kinh “Tượng Pháp Quyết Nghi” tức là cuốn kinh giải đáp những nghi ngờ trong thời tượng pháp, là thời kỳ ở giữa chánh pháp và mạt pháp có dạy rằng: “Tuyệt đối không được tạo, họa tượng bán thân, hoặc chỉ tạo họa bộ phận đầu mặt vì làm như vậy là phá hư 32 tướng trang nghiêm viên măn của chư Phật và Bồ Tát.”. Mặc dầu những nhà tạo tượng có thiện tâm, cũng như Phật tử lễ bái những tượng Phật, Bồ Tát không đủ tướng trang nghiêm với lòng rất mực thành kính đi nữa thì công đức và kết quả cũng không được như ý.
Tỷ lệ và kích thước cũng như nghệ thuật tạo tượng Phật, Bồ Tát có khác với nghệ thuật tạo tượng người thế tục hay không? Ở đây chúng ta không bàn về nghệ thuật điêu khắc mỹ thuật thế tục. Chúng tôi sẽ cố gắng tŕnh bày sơ lược kích thước theo kinh “Tạo tượng Lượng Đạc” để Phật tử chúng ta có một khái niệm về những đặc điểm của một tôn tượng Phật hay Bồ Tát.
Đầu tiên chúng ta nên biết qua về hệ thống đo chiều dài của Ấn Độ ngày xưa được dùng trong những kinh sách Phật giáo như: Luận Đại Tỳ Bà Sa, Luận Tạp A Tỳ, Luận Câu Xá, Kinh Phương quảng Đại Trang Nghiêm, Kinh Phật Bổn Nguyện Tập và còn nhiều nữa, tóm tắt như sau:
Từ nhỏ đến lớn: Vi trần, đầu sợi tóc, con kiến, hạt cải, mạch (hạt lúa), túc = 2 hạt lúa, chỉ tiết (lóng tay = 4 túc), kiệt thủ (gang tay = 12 lóng tay), Chửu (chỏ = 2 gang tay), thỏa = 1 sải tay = 120 lóng tay. Đại khái là như vậy, bởi vì kích thước đo chiều dài xử dụng trong kinh điển Phật giáo không giống nhau giữa Ấn Độ và Trung quốc nên đă thay đổi rất nhiều qua các triều đại lịch sử. Căn cứ theo kinh Tạo Tượng Lượng Đạc do Ngài Công Bố Tra dịch, dùng lóng tay giữa của ngón tay giữa co lại, phần đầu ngoài hai chỉ đốt lóng tay giữa là một tấc (thốn). Sau đây là kích thước của một số bộ phận quan trọng trong một tôn tượng:
1) Nhục kế, phần có tóc, cổ mỗi bộ phận cao 4 lóng tay. Tổng cọng tất cả là 12 lóng tức 1 gang tay.
2) Khuôn mặt, từ ranh giới yết hầu đến chấn thủy, từ chấn thủy đến rốn, từ rốn đến âm tạng mỗi phần dài 1 gang tay. Như vậy phần thân trên từ nhục kế đến âm tạng dài tổng cọng là 5 gang tay.
3) Xương háng, xương bánh chè ( đầu gối), từ mắt cá xuống thẳng lòng bàn chân, mỗi bộ phận dài 4 lóng tay. Tổng cọng là 1 gang tay.
4) Bắp vế, cổ chân mỗi bộ phận dài 2 gang tay. Như vậy tổng cọng phần thân dưới là 5 gang tay.
Hai phần thượng thân và hạ thân cọng lại là 10 gang, mỗi gang là 12 lóng, tổng chiều cao là 120 lóng tay. Đây là kích thước chiều cao căn bản. Nếu muốn tôn tượng to, nhỏ thì cứ theo tỷ lệ ấy mà tăng hoặc giảm.
Trong kinh điển cũng hướng dẫn rất rõ ràng và chi tiết về các kiểu tôn tượng như: tượng đứng, ngồi, tượng Bồ Tát, tượng hiển tướng phẩn nộ để hàng phục ma quân v.v…Chắc rằng các nhà hội họa, điêu khắc, tạo tượng Phật Giáo đều rất am tường vấn đề nầy. Do đó để tránh được sự nhầm lẫn giữa tượng của tín ngưỡng nhân gian và tôn tượng của Phật giáo để chiêm bái, một hiển tướng không thể thiếu là nhục kế của Đức Phật - Nhục kế là khối thịt trên đỉnh đầu nhô lên như búi tóc,hình thể tương tự như cái chén úp lại, đây là tướng tốt thứ 32 của đức Phật, và cũng là vẻ đẹp thứ nhất trong 80 vẻ đẹp đó là “Vô Kiến Đảnh Tướng”. Trên đỉnh Nhục kế của đức Phật có một điểm phát ra ức vạn ánh sáng, lớp lớp ánh sáng lần lượt chiếu rọi cho tới thượng phương vô lượng thế giới mà tất cả trời, người và Thập địa Bồ tát cũng không thể thấy được, cho nên gọi là Vô kiến Đảnh Tướng. Phật tử chúng ta thường tụng Thủ Lăng Nghiêm, phần trước Thần chú có các câu: Tùng nhục kế trung, dõng bá bảo quang, quang trung dõng xuất… Vô kiến đảnh tướng phóng quang, Như Lai tuyên thuyết thần chú… Ngoài ra khuôn mặt mà chúng ta thường gọi là “Diện” của tôn tượng Phật và Bồ tát cũng được chỉ dẫn rất rõ ràng trong kinh như diện của tượng Phật phải tròn đầy như mặt trăng (Như Lai măn nguyệt diện), c̣òn diện của Bồ Tát như h́ình quả trứng, diện của Minh Vương như h́ình vuông.v.v…
Muốn thỉnh một tôn tượng đúng pháp, nên tìm ở đâu?
Theo sự hướng dẫn trong Thiền Môn Pháp Ngữ Tân Tri, Phật tử chúng ta muốn thỉnh Tôn tượng Phật hay Bồ Tát để chiêm bái, quán tưởng trong khi tu học, chúng ta nên đến các ngôi chùa Phật giáo có cho thỉnh tượng, những đạo tràng chuyên phát hành văn vật của Phật giáo hoặc những tiệm chuyên cho thỉnh tôn tượng, pháp khí, pháp cụ để tìm một tôn tượng tương đối y như pháp, đừng vì chỉ thích một bộ phận nào đó mà bỏ qua những thiếu sót của tướng tốt và vẻ đẹp, để tránh gây nên những chướng ngại trên con đường tu học lâu dài của chính bản thân mình.
chuaadida.com Tổng hợp
Hình ảnh thêm về Giải thích ý nghĩa và Cách bài trí các tượng Phật - Bồ tát