Bài này có 4 mục như sau:
MỤC 1: ĐỨC PHẬT NHẬN ĐỘ
NGƯỜI HẠ TIỆN LÀM ĐỆ TỬ:
Một thời đức Phật ngự tại Tịnh Xá Kỳ Hoàn, vườn Cấp Cô Độc, trong rặng cây của Thái tử Kỳ Đà, nước Xá Vệ. Như thường ngày, Đức Phật quán sát thế gian, để xem chúng sinh có duyên, kẻ nên độ trước, kẻ nên độ sau. Cũng như cây nào nở hoa trước, thì kết quả trước, tùy theo chúng sinh căn lành đầy đủ, hoặc trước hoặc sau, đều được Ngài độ cả.
Bấy giờ trong thành Xá Vệ người đông đúc, nhà ở chen chúc, nhà vệ sinh rất ít, đi đại tiểu tiện, phần nhiều phải ra ngoài thành. Những nhà giàu, dùng cái thùng có nắp đậy, mướn người mang ra ngoại thành đổ. Khi đó có ông Ni Đề nhà nghèo, hàng ngày sinh sống bằng nghề đổ phân thuê.
Đức Phật biết ông Ni Đề căn lành đã đủ, nghiệp chướng đã nhẹ, nên một hôm Ngài vào thành để độ ông. Khi Đức Phật vừa vào tới đầu phố, thì ông Ni Đề gánh hai thùng phân đi ra, ông nhìn thấy Phật, bèn quẹo đi ngả khác, vừa ra khỏi ngả khác, bỗng nhiên lại gặp Phật. Ông luống cuống muốn quay ngược lại, khiến thùng đụng vào bờ tường, không biết làm thế nào, ông để hai thùng xuống, rồi vội ngồi hướng mặt vào tường, cúi nhìn xuống đất. Lúc ấy, Đức Phật tới gần, an ủi ông và nói rằng:
- Ni Đề, muốn theo Ta xuất gia tu đạo cho thoát khỏi các nỗi nghèo khổ không?
Ông ấp úng thưa:
- Kính lạy Đức Thế Tôn! Ngài là dòng Kim Luân Vương, các đệ tử của Ngài toàn là những quý nhân. Con là kẻ hạ tiện, hèn hạ, đâu dám xuất gia đồng hàng cùng các đệ tử của Ngài!
Đức Phật bảo:
- Ni Đề! Nghe ta nói: Pháp của Ta thanh tịnh nhiệm mầu, cũng ví như nước sạch có thể rửa hết dơ bẩn. Cũng như đống lửa lớn, có thể đốt cháy mọi vật, dù vật lớn hay nhỏ, cứng hay mềm, tốt hay xấu, đã bỏ vào thì thành tro than hết. Pháp của Ta cũng thế, rộng lớn vô cùng, già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, nếu ai muốn tu, ta đều độ hết.
Ông Ni Đề nghe Phật nói, lòng tin tăng trưởng, liền phục xuống lạy và thưa rằng:
- Kính lạy Đức Thế Tôn! Ngài giàu lòng thương đến con, vậy cúi xin Ngài cho con được nhập đạo tu hành.
Lúc ấy, Đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà là Thị giả của Ngài, theo ông Ni Đề đi đổ gánh phân, sau đó đưa ông ra sông tắm, và cho ông mặc một áo mới, rồi dẫn ông về Tinh xá Kỳ Hoàn.
MỤC 2: NGƯỜI HẠ TIỆN
NGHE GIÁO LÝ ĐẮC QUẢ:
Tại Tịnh Xá Kỳ Hoàn, Đức Phật thuyết pháp cho ông nghe rằng:
- Sinh tử là đau khổ phải nên sợ! Niết bàn là pháp an vui bất diệt, phải nên tôn qúy v.v...
Ông nghe Đức Phật giảng dạy, hốt nhiên tỉnh ngộ, ông chứng được Sơ quả. Chắp tay lễ Phật, ông xin được thọ giáo làm Sa môn.
Đức Phật nói:
- Lành thay Tỳ kheo! Ngài nói vừa dứt lời, tóc của ông Ni Đề tự nhiên rụng hết.
Đức Phật dạy: - Ni Đề! Ông nên biết: Sắc thân Năm Ấm này là khổ, do Sáu Căn tiếp xúc Sáu Trần là Mắt thấy hình ảnh, Tai nghe lời, Mũi ngửi mùi, Lưỡi cảm vị, Thân tiếp xúc, Ý suy nghĩ sinh ra yêu ghét rồi gây nghiệp. Những ác nghiệp gây ra từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nó dính mắc, ràng buộc, tập họp ở nơi tâm thức, nên phải trừ bỏ, đoạn diệt nó. Diệt phải nên chứng là phải biết dẹp bỏ hết những thứ ấy ở trong tâm.
Tóm lại, Đạo phải nên tu là diệt hết dính mắc thấy biết với Sáu Trần, dứt sạch những suy tư phân biệt ham muốn ái dục, sẽ trừ hết sạch đau khổ.
Nghe Đức Phật nói xong, ông Ni Đề tự nhiên Giác ngộ, dứt hết lậu nghiệp là sạch hết ô nhiễm, đắc quả A La hán.
Lúc ấy, ông Ni Đề có đủ Tam Minh và Lục Thông là:
THỨ NHẤT: VỀ TAM MINH, gồm có:
1. Túc Mệnh Minh: Là biết các kiếp sống vô số đời của mình và của người khác.
2. Sinh Tử Minh: Là biết rõ chúng sinh chết do nghiệp gì, sinh do nhân quả nào.
3. Lậu Tận Minh: Là biết rõ ô nhiễm của mình đã dứt hết.
THỨ HAI: VỀ LỤC THÔNG, gồm có:
Thiên nhãn thông: Mắt nhìn thấy tất cả các cõi trong giải Ngân Hà rất xa và các chúng sinh ở xa.
Thiên nhĩ thông: Tai có thể nghe âm thanh ở các nơi rất xa, ở các cảnh giới xa.
Túc mạng thông: Biết sinh mạng đời trước của mình, của chúng sinh cả đời sau luân chuyển thế nào.
Tha tâm thông: Biết tâm niệm và tư tưởng của người khác rõ ràng không sai.
Thần túc thông: Bay nhảy khắp nơi trong chớp mắt, biến hóa to nhỏ phi thường.
Lậu tận thông: Biết đã dứt hết tất cả phiền não, nghiệp chướng, biết đã chứng đến quả vị giải thoát.
MỤC 3: PHẢN ỨNG VIỆC NGƯỜI HẠ TIỆN LÀM ĐỆ TỬ CỦA PHẬT;
Bấy giờ người trong nước Xá Vệ nghe tin Đức Phật độ cho ông Ni Đề, ai cũng lắc đầu, có ý không vui, họ nói cùng nhau rằng:
- Ông Ni Đề là người gánh đổ phân thuê, là hàng hạ tiện, tại sao Phật lại độ cho ông ấy xuất gia? Chúng ta lễ bái làm sao?
Chúng ta thỉnh Phật và Tăng chúng đến cúng dàng, sẽ không mời kẻ đó! Nếu có người đó sẽ làm dơ bẩn nhà chúng ta v.v...
Họ bàn tán xôn xao, đồn khắp thành Xá Vệ, ai ai cũng nghe biết. Rồi lời dị nghị đến tai Vua Ba Tư Nặc, Vua nghe tin cũng không vui, thầm nghĩ rằng:
- Ta phải can thiệp việc này, nếu để Phật độ những người nghèo hèn xuất gia, thì khi cúng dàng lễ bái không tiện.
Nghĩ xong, Vua lên xe đến Tịnh Xá Kỳ Hoàn, khi tới cửa rừng, dừng xe đứng nghỉ. Bỗng từ xa, Vua nhìn thấy một Tỳ Kheo ngồi trên tảng đá lớn, ở dưới có vô số người xung quanh tảng đá, nhà Vua tới gần thì các người ấy bỗng biến mất, chỉ còn vị Tỳ Kheo ngồi trên tảng đá, nhà Vua nói rằng:
- Thưa Tôn giả! Tôi là Vua Ba Tư Năc nước Xá Vệ, muốn yết kiến Phật, xin Ngài vào thông bạch cho.
Vị Tỳ Kheo ấy đáp:
- Phải! Bệ Hạ, để tôi vào thưa trước.
Nói xong, vị Tỳ Kheo chui xuống tảng đá, rồi biến mất, đến chỗ Đức Phật, bạch rằng:
- Kính lạy Đức Thế Tôn! Vua Ba Tư Nặc ở ngoài cửa rừng muốn xin vào yết kiến Ngài.
Đức Phật nói:
- Ni Đề, hãy dùng đạo lực đi ra nói rằng: Ta cho mời Vua vào.
Ông Ni Đề từ tảng đá lớn ấy bước ra, cũng như người bước ra khỏi cửa mở, ông bảo nhà Vua rằng:
- Thưa Bệ Hạ! Tôi đã thưa với Đức Phật, xin Ngài cứ việc đi vào.
Vua Ba Tư Nặc thầm nghĩ rằng:
- Việc ta định hỏi trước, hãy khoan, ta sẽ hỏi Đức Phật, vị Tỳ kheo này ở đâu tới đây, có thần lực cao siêu, hơn nữa lại được các người cõi Trời vây quanh như vậy?
Khi tới nơi, Vua cúi đầu dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, rồi đứng một bên bạch Phật rằng:
- Kính thưa Đức Thế Tôn! Ở cửa rừng có một vị Tỳ kheo, thần lực cao siêu, khi đi vào trong tảng đá và lúc đi ra, như người bước ra cửa mở sẵn, đá vẫn không nứt vỡ, vị ấy họ tên gì, và ở đâu tới đây, xin Ngài nói cho con được biết?
Đức Phật dạy:
- Đó là một người hèn hạ ở trong nước của nhà Vua, tên là Ni Đề, hàng ngày đi gánh đổ phân thuê. Tôi thương xót, độ cho xuất gia tu học, chưa được bao lâu đã chứng Thánh quả. Hôm nay nhà Vua đến đây cũng định hỏi việc này!
Nghe Đức Phật nói thế, nhà Vua hổ thẹn, hối lỗi, tự bỏ tâm kiêu mạn; nhân thể, Đức Phật nói rằng:
- Phàm con người ở đời, tôn ty, sang hèn, giàu nghèo, khổ vui, đều do tạo ác nghiệp hay thiện nghiệp đời quá khứ. Người nhân từ đạo đức, khiêm nhượng, kính trên nhường dưới, đó là bậc quý nhân; kẻ hung ác, kiêu ngông, vô lễ độ, là kẻ si mê tiểu nhân.
Vua Ba Tư Nặc nói:
- Thưa Đức Thế Tôn! Ngài cứu tế cho muôn loài, cả đến những người hạ tiện, còn cứu khổ ban vui, không bỏ sót lớp người nào. Thưa Đức Thế Tôn, ông Ni Đề do nhân duyên gì phải sinh nơi hạ tiện? Làm phúc gì được gặp Ngài? Hơn nữa lại được chứng quả A La Hán, cúi xin Ngài Từ Bi chỉ dạy.
MỤC4: TIỀN KIẾP VÀ QỦA
BÁO CỦA NGƯỜI HẠ TIỆN:
Đức Phật bảo Vua:
- Nhà vua muốn nghe, Như Lai sẽ nói rõ nguyên nhân cho biết.
Vua Ba Tư Năc nói:
- Thưa Đức Thế Tôn! Con xin được nghe, xin Ngài chỉ giáo.
Đức Phật nói:
Đây là một câu chuyện đời quá khứ, thời Đức Phật Ca Diếp giáng thế độ sinh. Sau khi Ngài vào Niết bàn, có mười vạn vị Tỳ Kheo cùng ở với nhau trong một đại Tùng Lâm tu hành.
Một hôm, vị Sa môn chủ Tùng Lâm mắc bệnh phải uống thuốc, ông cậy thế là một vị chủ Tùng Lâm, không chịu đi ra nhà vệ sinh, lại dùng một cái bình bằng bạc mạ vàng, đi đại tiểu tiện vào trong, rồi sai một người đệ tử đem đi đổ. Song người đệ tử ấy đã đắc quả Tu đà hoàn là bậc Sơ qủa vào dòng Thánh.
Bởi thế! Vì không có tâm khiêm nhường, không phân biệt được người hay kẻ dở, cậy mình có quyền thế trong Tăng chúng, gặp chút bệnh nhẹ không chịu đi, mà sai vị Thánh nhân đổ phân cho mình. Vì nhân duyên ấy bị luân chuyển trong sinh tử, thường phải làm kẻ hạ tiện trong năm trăm đời, đi đổ phân thuê, cho đến ngày nay. Cũng do công đức xuất gia trì giới tu hành, nên gặp ta cứu thoát. Nhà Vua nên biết ông chủ Tùng Lâm thuở đó, nay là Tỳ kheo Ni Đề.
Vua ba Tư Nặc nói:
- Kính thưa Đức Thế Tôn, quý hóa thay, Ngài xuất thế thực là hiếm có, làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh đau khổ.
Đức Phật dạy:
- Đúng thế, Đại Vương, chúng sinh luân chuyển trong ba cõi, nên biết rằng: Người tích thiện tu nhân, được sinh vào nhà tôn quý, kẻ tạo ác, vô lễ độ, phải sinh nơi hèn hạ.
Nghe Phật nói! Vua Ba Tư Nặc vui mừng, bỏ tâm khinh người, kiêu mạn. Nhà Vua đến bên Tôn giả Ni Đề, vái lễ và xin xá lỗi vì đã có tâm khinh mạn, Tôn giả Ni Đề vui vẻ liền vái lễ, cảm ơn Vua.
Đức Thế Tôn nhân đó thuyết pháp, nói về luận "Bố Thí", Luật "Trì Giới", luận "Sinh Thiên". Kẻ tà dâm phạm dục là hạnh bất chính, đoạn dục là hạnh an vui.
Hình ảnh thêm về NGƯỜI GÁNH PHÂN HẠ TIỆN LÀM ĐỆ TỬ PHẬT