Tổ Liễu Quán ra đời vào ngày 18 tháng 10 năm Đinh Mùi (1667), tại làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, trong một gia đình bình dân, mồ côi mẹ từ thuở lên sáu. Năm 12 tuổi, Ngài được thân phụ dẫn đến bái yết Hòa Thượng Tế Viên, chùa Hội Tôn, xin cho xuất gia học đạo. Trong thời gian tu học ở đây, Ngài đã là một đạo đồng thông minh chăm chỉ. Tuy bên ngoài là hình ảnh một chú điệu ngây thơ, chất phác, nhưng bên trong mang sẵn một bản hoài của vị Bồ Tát giáng trần, một hạnh nguyện của bậc Thánh Tăng xuất thế. Với trí tuệ siêu việt, với đức tin dõng mãnh, Ngài chững chạc bước vào đời.
Sau bảy năm, Ngài đã chăm lo tu học rất tinh tấn và thường hầu hạ giúp đỡ Thầy, không ngại khó nhọc, nhưng đường tu chưa được thành tựu thì Sư phụ của Ngài đã tịch diệt. Ngài lo cư tang cho Thầy để làm trọn niềm hiếu kính ân sư. Sau đó, với chí nhiệt thành hăng say trên bước đường tìm chân lý, Ngài không quản núi sông cách trở, đèo ải nguy nan đã quyết chí vượt suối, băng ngàn tìm thầy học đạo. Năm 1680, Ngài chỉ một mình một bóng vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, ra tận Thuận Hóa, đến núi Hàm Long Thiên Thọ yết kiến Giác Long Lão Tổ (Tổ khai sơn chùa Hàm Long Thiên Thọ, tức chùa Báo Quốc ngày nay), cầu xin thọ giáo và theo tu học ở đây được mười một năm. Đến năm Tân Mùi (1969) được tin thân phụ đau yếu Ngài phải trở lại quê nhà, để lo phụng dưỡng. Hằng ngày lên núi đốn củi, đem về đổi gạo nuôi cha, thời gian thấm thoát bốn năm mà Ngài không ngại khổ nhọc. Sau khi thân phụ từ trần, Ngài lo trai tuần siêu độ cho vong linh thân phụ sớm được siêu thoát, hầu vẹn toàn chữ hiếu. Qua năm Ất Hợi (1965), Ngài lại trở ra Thuận Hóa thọ giới Sa Di với Hòa Thượng Thạch Liêm. Hai năm sau tức năm Đinh Sửu (1697), Ngài được thọ Cụ túc giới với Đại lão Hòa Thượng Từ Lâm. Đến năm Kỷ Mão (1699), Ngài bắt đầu đi tham lễ khắp các chốn Thiền lâm, chịu bao khó khăn gian khổ, nếm đủ mùi đắng cay, đạm bạc trải hơn ba năm. Vào năm Nhâm Ngọc (1702), Ngài đến núi Long Sơn bái yết Hòa Thượng Tử Dung (Minh Hoằng), Tổ khai sơn chùa Ấn Tôn, tức chùa Từ Đàm bây giờ) cầu pháp tham thiền, Hòa Thượng dạy Ngài tham câu:
“Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ?”
Dịch là:
“Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”
Ngài đã lãnh thọ yếu chỉ “thoại đầu” rồi chuyên tâm tu luyện, tham cứu ròng rã sáu, bảy năm trời, nhưng chưa tỏ ngộ được. Ngài tự cảm thấy hổ thẹn và càng tinh tấn tham cứu. Một bửa nọ, nhơn đọc truyện “Truyền Đăng Lục” đến câu:
“Chỉ vật truyền tâm, người không hiểu được"
bỗng nhiên Ngài tỏ ngộ. Mùa xuân năm Mậu Tý, Ngài trở ra Long Sơn cầu Hòa Thượng Tử Dung ấn chứng, Ngài đem chỗ công phu của mình tuần tự thuật lại sự duyên tỏ ngộ và nêu câu:
“Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”
Hòa Thượng Tử Dung liền nói:
“Huyền nhai tán thủ
Tự khẳng thừa đương
Tuyệt hậu tái tô
Khi quân bất đắc”.
Dịch là:
“Ra nơi hố thẳm buông tay
Lao mình nhảy xuống hiểm nguy cam đành
Chết đi sống lại chính mình
Không còn ai kẻ đối khinh được nào”.
Ngài Liễu Quán vỗ tay cười lớn, Hòa Thượng Tử Dung nói: “Chưa nhằm!”
Ngài Liễu Quán nói:
“Bình thùy nguyên thị thiết”.
Dịch là:
“Xưa nay sự thật rõ ràng
Quả cân này vốn là bằng sắt kia”.
Hòa Thượng Tử Dung nói: “Chưa nhằm!”
Ngài Liễu Quán nói:
“Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thực dĩ đa thĩ”
Dịch là:
“Nếu như sớm biết đèn là lửa
Chắc chắn rằng cơm chín đã lâu”
Hòa Thượng rất khen ngợi chỗ khế hội.
Mùa hạ năm Nhâm Thân (1972), Hòa Thượng Tử Dung vào Quảng Nam dự hội Chử Sơn. Ngài Liễu Quán đem trình bày kệ dục Phật. Hòa Thượng liền hỏi:
“Tổ Tổ tương truyền, Phật Phật thọ thọ
Vị thẩm truyền thọ cá thậm ma?”
Dịch là:
“Xưa nay Phật Tổ truyền nhau
Chẳng hay Phật Tổ truyền trao vật gì?”
Ngài Liễu Quán nói:
“Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng,
Qui mao phất tử trọng tam cân”.
Dịch là:
“Tảng đá mọc măng cao một trượng,
Lông rùa làm chổi nặng ba cân”.
Hòa Thượng nói tiếp:
“Cao cao sơn thượng hành thuyền
Thâm thâm hải để tẩu mã”.
Dịch là:
“Lung linh nước chảy qua đèo,
Ngựa đua dưới biển, thuyền trèo trên non”.
Ngài Liễu Quán tiếp theo:
“Chiết giác nê ngưu triệt dạ hồng
Nhất huyền cầm tử tận nhật đờn”.
Dịch là:
“Trâu đất gãy sừng thâu đêm rỗng
Đòn cầm dây đứt suốt ngày rung”.
Ngài ứng đối rất nhặm lẹ, thật là cơ cảm khế hợp, được Hòa Thượng ấn chứng.
Từ đó, Ngài đi khắp nơi để hoàng dương chánh pháp hết Huế đến Phú Yên, rồi từ Phú Yên trở ra Huế. Truyền rằng, có lần từ Phú Yên ra Huế chỉ trong có mấy tiếng đồng hồ. Hôm ấy, Ngài vừa đến Huế vào khoảng một giờ đêm, đến ngang miếu thờ Thần Hoàng xóm Ngũ Tây, cách chùa Thuyền Tôn bây giờ độ vài cây số, gặp lúc trời mưa, Ngài vào miếu nghỉ lại, khi đó các vị thần trong miếu lánh đi để nhường chỗ cho Ngài trọ. Các vị thần ấy xuống xóm gõ cửa báo mộng cho dân làng biết là có một vị Bồ Tát vào nghỉ trong miếu, vì Ngài là bậc có oai đức nên ta phải nhường chỗ, sáng ngày các người phải lên miếu để đón rước Ngài và thỉnh Ngài về bổn sở, thì ta mới trở về miếu được. Theo điềm báo mộng ấy, sáng sớm dân làng tập trung khăn áo kéo đến, thấy Ngài còn đang ngồi trong miếu. Hỏi mới biết Ngài từ Phú Yên ra từ chiều qua, lúc mặt trời chưa lặn, ai nấy đều kinh ngạc. Sau đó có người nhơn vào Phú Yên có việc, hỏi thăm thì đúng như vậy. Bằng chứng là trước khi đi, Ngài còn dự một buôi lễ Trai đàn, mà ai cũng đều thấy, từ đó người ta mới tin rằng, Ngài có thần túc. Liên tiếp ba năm: Quí Sữu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Mão (1735), Ngài đã không quản khó nhọc gian lao, nhận lời mời của chư Tôn môn, các Tể quan cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ Đại Giới đàn. Qua năm Canh Thân (1740), Ngài khai Đại Giới đàn Long Hoa truyền giới, để ban bố giới pháp cho hàng hậu tấn. Lúc bấy giờ, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1728-1765) rất sùng kính đạo hạnh của Ngài, nên đã nhiều lần thỉnh vào cung đàm đạo, nhưng Ngài vẫn một mực từ chối. Truyền rằng, lúc sanh tiền, ngoài thời gian tu luyện nơi thảo am, và những lúc đi du phương hóa đạo, Ngài thường trú tại chùa Viên Thông dưới chân núi Ngự Bình bây giờ, vì khi ấy, chùa Thuyền Tôn chưa phải là tự vũ nguy nga, mà chỉ là một thảo am tầm thường, nên Chúa Nguyễn thường ngự đến Viên Thông thăm viếng, đàm đạo. Vì vậy tên núi “Ngự” phát xuất từ đó, và các đời vua triều Nguyễn sau này cũng thường đến viếng chùa, đàm đạo với các vị trụ trì kế tiếp, đồng thời để du sơn ngoạn cảnh.
Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), Ngài chứng minh lễ Đại giới đàn chùa Viên Thông, với số giới tử xuất gia cũng như tại gia cầu thọ giới rất đông.
Bấy giờ, thân tứ đại đã yếu dần, lớp cà sa đã đượm thắm phong sương, vì Ngài đã lê theo gót thời gian hơn bảy mươi năm xả thân hành đạo, cứu khổ, độ mê. Nên cuối mùa thu năm ấy, Ngài cảm thấy trong người yếu kếm sắp xả báo thân, bèn họp đồ chúng lại và dạy rằng: “Nhơn duyên đã mãn, ta sắp chết vậy”.
Lúc ấy, ai nấy đều đau buồn than khóc, Ngài khuyên rằng: “Các ngươi khóc lóc mà làm chi? Chư Phật ra đời còn nhập Niết Bàn; ta nay đi lại rõ ràng, về tất có chỗ, các ngươi không nên khóc lóc và đừng nên buồn thảm lắm!”.
Cuối tháng mười một năm ấy, nhằm ngày 21, một buổi sớm mai, Ngài ngồi dậy ngay thẳng, tự cầm viết, viết bài kệ rằng:
“Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc diệc dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà tất bôn man vấn tổ tông”.
Dịch là:
“Ngoài bảy mươi tuổi trong thế giới
Không không sắc sắc thảy dung thông
Ngày nay nguyện mãn về quê cũ
Nào phải ân cần hỏi tổ tông”.
Viết kệ xong, Ngài hỏi đồ chúng rằng: “Sau khi ta đi, các người phải nghĩ cơn vô thường nhanh chóng, cần phải siêng năm tu học trí tuệ. Các người phai nên gắng tới, chớ bỏ quên lời Ta".
Rồi Ngài dùng nước trà, các đệ tử làm lễ xong, Ngài hỏi: “Đến giờ Mùi chưa?. Các đệ tử thưa: “Đúng giờ Mùi”, thế rồi Ngài ngồi an nhiên thị tịch, vua nghe tin đến lễ bái và ban cho Ngài bia ký tự hiệu:
“ĐẠO HẠNH THỤY CHÁNH – GIÁC VIÊN - NGỘ HÒA - THƯỢNG”
Ngài tịch lúc hai giờ chiều, ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1742), tại chùa Viên Thông, dưới chân núi, thọ 72 tuổi. Truyền rằng: Khi Ngài tịch không những để lại cho chư Tăng, vua quan sĩ thứ nỗi buồn thương tiếc, mà còn cảm động cả đất trời, cho đến nước sông như không chảy, mây ngàn như chẳng trôi. Nên có câu rằng:
“Chung tuần Ngự lãnh vân vị tán
Mãn nhật Hương giang thủy bất lưu”
Tạm dịch:
“Núi Ngự tuần đầy mây chẳng rã
Sông hương ngày trọn nước không trôi”.
Thi thể của Ngài được an trí nơi Bảo tháp cách chùa Thuyền Tôn bây giờ độ hơn một cây số, về phía đông nam, là nơi mà trước kia Ngài đã ẩn thân lo tu thiền quán sáu, bảy, năm cho đến tỏ ngộ. Ngôi tháp ấy do nhà vua xây, rất nguy nga, mỹ lệ. Mặc dù trải qua mấy trăm năm, nhưng nét thời gian vẫn chưa thể làm phai mờ. Hiện nay ngôi Bảo tháp ấy đã biến thành hóa thân của Ngài, đang đứng uy nghi giữa rừng thông cổ thụ, nhìn ra dòng suối biếc, bốn mùa rào rạc chảy, như nhịp mõ trường canh bất tuyệt, để tán tụng pháp thân. Thật đúng theo tinh thần hai câu đối được đặt hai bên cửa tháp Ngài:
“Bảo đạo trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy.
Pháp thân độc lộ y nhiên tọa lý khán thanh sơn”.
Tạm dịch:
“Tiếng mõ vang lừng trước ngõ tuôn trào dòng suối biếc
Pháp thân vòi vọi quanh tòa cao ngất dãy non xanh”.
Trước tháp có hồ bán nguyệt thiên nhiên, nước bốn mùa trong xanh, phản chiếu hình ảnh ngôi tháp và rừng thông. Thỉnh thoảng vài làn gió nhẹ thổi đến làm nước mặt hồ gợn sóng lung linh, khách hành hương đứng trên bờ nhìn xuống, trông hình ảnh của ngôi tháp và toàn cảnh núi đồi phản chiếu trên mặt hồ, như đang nhịp nhàng di chuyển và tiến xa dần đến tận cõi vô biên.
Truyền rằng những năm tu hổ hạnh thiền quan nơi đây, Ngài đã từng sống bằng rong dưới hồ này với muối trắng, cơm khô qua sáu bảy năm tròn. Chỉ chừng công hạnh cũng đủ để làm tấm gương sáng cho sau này, và thanh danh Ngài được truyền tụng lại thiên thu.
Ngài thuộc phái thiền Lâm tế chánh tôn, đời thứ 35. Theo pháp kệ thuộc dòng Lâm tế, do Tổ Nguyên Thiều truyền xuống:
“Tổ đạo giới định tôn
Phương quảng chúng Viên thông
Hạnh siêu minh thiệt tế
Liễu đạt ngộ chơn không ...”
Ngài lấy chữ “thiệt” là pháp danh của Ngài (Thiệt Diệu) và chữ “tế” mà đặt tiếp theo thành một giòng kệ riêng truyền xuống là:
“Thiệt Tế Đại Đạo
Tánh Hải Thanh Trừng
Tâm Nguyên Quảng Nhuận
Đức Bổn Từ Phong
Giới Định Phước Huệ
Thể Dụng Viên Thông
Vĩnh Siêu Trí Quả
Mật Khết Thành Công
Truyền Trì Diệu Lý
Diễn Xướng Chánh Tông
Hạnh Giải Tương Ứng
Đạt Ngộ Chơn Không”
Ngài là Tổ khai sơn chùa Viên Thông và chùa Thuyền Tôn, cũng là vị sơ tổ của phái Thiền Tôn Trung Việt, được truyền bá đến ngày nay. Gọi là phái Thiền Tôn Liễu Quán. Tuy huyễn thân của Ngài không còn trong hiện tại, nhưng hương đạo của Ngài vẫn phưởng phất trong không gian, thấm đượm qua thời gian. Thật đúng với câu: “Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương” được tôn trí trước cửa tháp của Ngài, dư hương ấy, là tinh thần bản thân Phật Giáo Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Hồng danh của Ngài được luôn luôn vang vọng bên tai và trong lòng người Phật tử Việt Nam.
(Trích tập san Liễu Quán)
Hình ảnh thêm về VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI NGÀI LIỄU QUÁN